Lịch Sử
Cầu lời nói thẳng lo việc nước
--- Bùi Xuân Đính ---
Sử cũ còn ghi, nhiều bậc "minh quân" có tinh thần cầu thị, biết lắng nghe ý kiến của quần thần, đã khuyến khích các quan và thần dân trong cả nước được nói những lời thẳng thắn về những điều hay dở của chính sự, những mặt được và chưa được trong cách trị vì đất nước. Tinh thần cầu thị đó thông qua việc ban hành "Chiếu cầu lời nói thẳng", góp phần tìm ra những giải pháp khắc phục, sửa chữa thiếu sót để "nước nhà được hưởng phúc lớn".
Lần đầu tiên "Chiếu cầu lời nói thẳng" được ban bố vào tháng tư năm Bính Thìn, niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng đời vua Lý Nhân Tông (1076). Rất tiếc sử cũ không cho biết nội dung của chiếu này.
Thời Lê Sơ, vào ngày 26 tháng hai năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên (1429), vua Lê Thái Tổ lệnh cho các ngôn quan (quan có trách nhiệm can gián vua và đàn hặc các quan) rằng: "Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc, thuế má nặng nề, ngược hại lương dân, thưởng công phạt tội không theo đúng phép xưa; hay các quan không giữ phép, nhận hối lộ, nhiễu hại lương dân, thiên tư phi pháp thì phải lập tức dâng sớ đàn hặc ngay". Nội dung của lệnh này (có giá trị pháp lý như tờ chiếu) hàm chứa việc vua cho phép trăm họ được thẳng thắn nói ra những điều bất ổn trong cách cai quản đất nước của mình, những tệ nạn do quan lại gây ra.
Thời vua Lê Thái Tông, ngày 27 tháng 5 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Thiệu Bình (1438), vì thấy có nhiều tai dị (hạn hán, sâu bệnh, sét đánh vào vườn cây trước cửa Thái miếu ở Lam Kinh), vua xuống chiếu cho trăm quan. Trong tờ chiếu, Lê Thái Tông đã "tự vấn mình" rằng, phải chăng những tai dị xảy ra liên tiếp trong mấy năm có nguyên nhân ở việc vua không lo sửa đức để mọi việc bê trễ; do quan tể phụ bất tài xếp đặt chính sự không điều hòa; do nạn hối lộ công khai nên hình ngục có nhiều oan trái; do làm nhiều công trình thổ mộc để sức dân mệt mỏi; do thuế má nặng nề nên trăm dân bị túng thiếu. Từ chỗ "tự trách mình", vua đại xá cho thiên hạ rồi ra lệnh: "Tất cả các đại thần văn võ nên chỉ ra những lỗi lầm kể trên, cứ thẳng thắn nói hết, đừng kiêng nể gì, để có thể xoay chuyển được lòng trời, chấm dứt được tai biến, để nước nhà mãi mãi hưởng phúc lớn vô cùng". Với tờ chiếu này, vị vua trẻ tuổi nhà Lê đã thể hiện tinh thần cầu thị rất cao trước trăm quan và thần dân. Ông tự thấy mình có lỗi trong công việc sửa đức, trong chính lệnh để lòng người, lòng dân không yên, từ đó động đến "lòng trời" nên xảy ra nhiều tai dị liên tiếp. Vì thế, vua cho phép và mong mỏi quan, dân vạch ra những lỗi lầm và chỉ ra những giải pháp khắc phục để "nước nhà mãi mãi được hưởng phúc lớn".
Thời Lê Nhân Tông, ngày 2 tháng 2 năm Quý Hợi (1443), cũng do có nhiều tai ương xảy ra, vua xuống chiếu có nội dung "tự trách mình" như tờ chiếu của vua cha nêu ở trên. Lê Nhân Tông cho rằng, những tai dị xảy ra là do vua mới lên ngôi, chưa biết giảm nhẹ thuế khóa, lao dịch; do việc cai ngục không công bằng, nạn hối lộ công khai, án xử còn nhiều oan khuất, do bọn gièm pha âm mưu xảo quyệt để công thần bị nhiều oan ức; do kẻ tiểu nhân được tiến dùng, còn người quân tử thì lui đường ở ẩn; do bọn phi tần lộng hành; do phụ quốc đại thần điều hòa trái lẽ; do chức thú lệnh chưa chọn được người giỏi... Từ đó, vua "lệnh cho khắp quan lại, quân, dân đều phải hết lòng bày tỏ những điều có thể xoay chuyển được lòng trời, dẹp hết tai biến, hãy nói thẳng ra, chớ nên ẩn giấu, để trẫm sửa những điều thiếu sót".
Như vậy, cũng như vua cha, Lê Nhân Tông có thái độ cầu thị nghiêm túc.
Thời vua Lê Thánh Tông, vào tháng 4 năm Nhâm Ngọ (1462), nhân có tai biến về mưa đá và giông tố, nhà vua cũng xuống chiếu cầu lời nói thẳng, song sử cũ không cho biết về nội dung cụ thể của tờ chiếu này.
Thời Lê-Trịnh, vào tháng 5 năm Canh Tý (1720), vì hạn hán, chúa Trịnh Cương trưng cầu lời nói thẳng "cho phép văn võ bách quan được dâng thư niêm phong điều trần về chính sự, cứ nói rõ ràng hết lời về việc được việc hỏng, việc hay việc dở, không được giấu giếm kiêng kỵ.
Dưới triều Tây Sơn, vào tháng 5 năm ất Mão (1795), vua Cảnh Thịnh cũng xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Tờ chiếu do Ngô Thì Nhậm thảo cho vua, vạch rõ nguyên nhân của tình trạng khẩn cấp là "trong thì triều đình, ngoài thì châu quận, xa thì biên ải, kỷ cương chưa được thiết lập, chấn chỉnh, nhiều chỗ sai lầm; việc quan lại cai trị; việc binh cơ dân chính còn nhiều thiếu sót, lấp chỗ này thì hở chỗ kia... Tệ trễ biếng do lòng tự mãn sinh ra, tích tụ chất chứa đã lâu, không sao kể xiết". Từ đó vua mong mỏi thần dân nêu ý kiến tìm cách khắc phục tình trạng xã hội rối ren. Vua "sẵn lòng nghe theo lời nói phải để thi hành ra chính sự, mong đổi được lệ tục, làm được việc hay".
Sang triều Nguyễn, vua Gia Long, Minh Mệnh cũng đã nhiều lần ban chiếu cầu lời nói thẳng, nhưng các đối tượng được phép nói, bị hạn chế hơn.
Việc xuống chiếu cầu lời nói thẳng của các triều đại thể hiện phần nào tinh thần cầu thị lắng nghe ý kiến của quan lại và thần dân, đó cũng là tinh thần trách nhiệm cao trước sứ mệnh trị nước an dân của một số vị hoàng đế Đại Việt.
nguồn: bạn đọc góp bài