Lịch Sử
Ngoại giao Việt - Trung triều Đinh
--- Lã Đăng Bật ---
Sau khi dẹp yên loạn 12 sứ quân, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (nay là xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Đinh Tiên Hoàng là người có công củng cố độc lập, chủ quyền dân tộc và xây dựng quốc gia phong kiến thống nhất đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Năm 969, ở Trung Quốc vẫn còn cảnh đại loạn 5 đời 10 nước (Ngũ đại thập quốc). Vì vậy, nhà Tống chưa kịp với tay xuống phương Nam. Đinh Tiên Hoàng hiểu rõ sự tồn tại của đất nước phải gắn chặt với mối quan hệ tốt đẹp với nhà Tống. Mặc dù mới lên ngôi vua được một năm và còn đang bận củng cố bộ máy triều chính, Đinh Tiên Hoàng đã cử sứ thần sang Tống kết hảo. Động thái này được xem như một sự "biết điều", "tôn trọng" phong kiến phương Bắc, thể hiện tầm nhìn sâu sắc về quan hệ ngoại giao giữa nước nhỏ với nước lớn. Có lẽ, đây là đoàn sứ giả đầu tiên của một nhà nước phong kiến tập quyền ở nước ta sang Trung Quốc.
Hai năm sau, năm 971, nhà Tống đã đến lúc để ý đến nước Đại Cồ Việt, mới sai người mang thư đến kinh đô Hoa Lư nhắc nhở đinh Tiên Hoàng: "...Cơ nghiệp đã thành rồi. Giờ đợi nhà ngươi đến để cho yên lòng trẫm. Nhà ngươi chớ nên quay đi nơi khác..." (Việt Sử lược).
Năm 972, Đinh Tiên Hoàng quyết định cử con trai cả của mình là Nam Việt Vương Đinh Liễn đi sứ sang Tống và đến năm 973 mới trở về. Chọn Đinh Liễn đi sứ là thể hiện sự tôn trọng nhà Tống và để củng cố niềm tin của nhà Tống với nước Đại Cồ Việt. Điều chắc chắn là chuyến đi sứ của đinh Liễn đã thành công. Khi Đinh Liễn về nước, vua Tống đã phái sứ thần đến Kinh đô Hoa Lư phong Đinh Tiên Hoàng làm Giao chỉ quận vương, Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư, Tĩnh hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. đây là một mốc quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa nhà đinh với nhà Tống. Thiên triều thừa nhận Đinh Tiên Hoàng là Vua của một nước.
Để giữ gìn lâu dài mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp, năm 975, Đinh Tiên Hoàng lại cử Trịnh Tú, một trong tứ trụ triều Đinh sang Tống triều cống vàng, lụa, sừng tê, ngà voi. Nhà Tống sai Hồng Lô Khanh là Cao Bảo mang chế sang đáp lễ, phong Đinh Liễn làm Khai Phủ nghi đồng tam ty, kiêm hiệu Thái sư Giao chỉ quận vương. Các hoạt động ngoại giao làm tăng mối quan hệ hữu hảo giữa hai nước.
Năm 976, Đinh Tiên Hoàng sai Trần Nguyên Thái sang đáp lễ. Năm 977, Đinh Tiên Hoàng lại cử sứ sang mừng Tống Thái Tôn lên ngôi. Như vậy, từ năm 969 đến 977, Đinh Tiên Hoàng đã cử sứ sang Tống 5 lần và nhà Tống cũng cử sứ sang nước ta 3 lần. 5 lần sứ đoàn nước ta sang Tống đều là chủ động, cần thiết, đúng thời điểm và đúng lễ nghi. Và có lẽ, không lần nào sứ đoàn của Đại Cồ Việt làm cho nhà Tống phật ý, khó chịu.
Những cuộc bang giao đó đã ghi nhận một chính sách đối ngoại khéo léo, mềm dẻo của Đinh Tiên Hoàng để giữ gìn hòa bình và củng cố độc lập, chủ quyền dân tộc. Ông không những thống nhất đất nước, mà còn có tài lược ngoại giao với cường quốc láng giềng.
Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã đánh giá thành tựu của chính sách ngoại giao đó:
"Xét nước ta từ thời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc nhưng danh hiệu còn nhỏ không được dự vào hàng chư hầu triều hội... Rồi Triệu Đà kiêm tính nhà Hán phong Đà làm Nam Việt vương chỉ được sánh với chư hầu của Trung Quốc, chưa từng được nêu là một nước... đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục mở mang bờ cõi lúc bấy giờ sách phong của Trung Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước".
nguồn: bạn đọc góp bài